Thanh trượt, trục vít me bi
Gối đỡ, khớp nối
THỐNG KÊ
  • Khách đang online: 11
  • Truy cập hôm nay: 85
  • Lượt truy cập: 276980
  • Số trang xem: 306926
  • Tổng số danh mục: 24
  • Tổng số sản phẩm: 108
QUẢNG CÁO
Bạn đang ở: Trang chủ » Tin tức » Tình hình kinh tế- lĩnh vực công nghiệp 6 tháng đầu năm 2015
TIN TỨC

Tình hình kinh tế- lĩnh vực công nghiệp 6 tháng đầu năm 2015

Kinh tế - xã hội nước ta 6 tháng đầu năm 2015 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới được dự báo tiếp tục đà phục hồi nhưng chưa bền vững với tốc độ tăng trưởng giữa các khu vực ngày càng khác biệt, một phần do giá dầu và giá một số hàng hóa giảm tác động ở mức khác nhau đến từng khu vực. Kinh tế Mỹ - nền kinh tế lớn nhất tiếp tục tăng trưởng mạnh hơn nhờ nhu cầu thị trường nội địa tăng lên, đặc biệt là nhu cầu tiêu dùng. Hầu hết các nền kinh tế mới nổi được hưởng lợi từ giá dầu giảm, thanh khoản toàn cầu tăng và sự tăng tốc của nền kinh tế Mỹ và châu Âu. Trong khi đó, các nền kinh tế hàng đầu khác tăng trưởng chậm và tiếp tục đối mặt với những khó khăn đáng kể do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu như số việc làm giảm do tổng cầu yếu, nợ khu vực tư nhân và nợ công tăng cùng với những bất ổn của ngành tài chính. Ở trong nước, giá xăng dầu giảm là yếu tố hỗ trợ mạnh mẽ cho các doanh nghiệp và kích thích tiêu dùng. Các chính sách ban hành trong năm 2014 và đầu năm 2015 đã phát huy tác dụng, tạo điều kiện cho khu vực doanh nghiệp vượt qua khó khăn. Các ngành, lĩnh vực và các địa phương trên cả nước tận dụng cơ hội thuận lợi trong và ngoài nước, triển khai thực hiện tốt các văn bản chỉ đạo, điều hành của Quốc hội và Chính phủ, trọng tâm là Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015. Kết quả cụ thể sản xuất kinh doanh 6 tháng đầu năm như sau:

Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Sáu ước tính tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng tăng 12%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,8%; cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 6,4%.

Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 9,3%; quý II tăng 10,2%), cao hơn nhiều mức tăng của cùng kỳ một số năm gần đây[3]. Trong các ngành công nghiệp, ngành khai khoáng tăng 8,2%, đóng góp 1,7 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành chế biến, chế tạo tăng 10%, đóng góp 7 điểm phần trăm; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 11,2%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 6,4%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm[4]Xét theo công dụng của sản phẩm công nghiệp, chỉ số sản xuất của sản phẩm trung gian dùng cho quá trình sản xuất tiếp theo tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước; sản phẩm là tư liệu sản xuất tăng 14% (công cụ sản xuất tăng 24,1%; nguyên vật liệu xây dựng tăng 12,1%); sản phẩm tiêu dùng của dân cư tăng 8,2%.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 6 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất xe có động cơ tăng28,7%; dệt tăng 23,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 21,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 21,1%. Một số ngành có mức tăng khá: Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 12,7%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 12,6%; khai khoáng khác tăng 12,1%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,2%; sản xuất kim loại tăng 10,4%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 10,3%. Một số ngành có mức tăng thấp: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 7,6%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 7,2%; sản xuất đồ uống tăng 5,9%; khai thác than cứng và than non tăng 5,2%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 5%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 4,5%; sản xuất trang phục tăng 4,5%; sản xuất thuốc lá tăng 1,8%.

Trong 6 tháng đầu năm nay, một số sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại di động tăng 68,8%; ô tô tăng 57,6%; ti vi các loại tăng 40,3%; giày, dép da tăng 19,5%; thức ăn cho thủy sản tăng 19%; thép cán tăng 18,2%; sữa tươi tăng 13,6%. Một số sản phẩm tăng khá: Điện sản xuất tăng 11,8%; dầu thô tăng 11%; sơn hóa học các loại tăng 10,9%; xi măng tăng 10,5%. Một số sản phẩm tăng thấp hoặc giảm: Khí hóa lỏngtăng 8,4%; bia các loại tăng 5,6%; quần áo mặc thường tăng 5,5%; nước máy thương phẩm tăng 5,4%; thủy sản chế biến tăng 5,3%; than đá tăng 3,7%; sắt thép thô tăng 3,2%; đường kính tăng 2,9%; phân hỗn hợp NPK tăng 2,6%; thuốc lá điếu tăng 1,7%; sữa bột giảm 0,6%; xe máy giảm 13,3%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Thái Nguyên tăng 230%; Quảng Nam tăng27,3%; Hải Phòng tăng 15,9%; Đà Nẵng tăng 11,2%; Hải Dương tăng 9,3%; Bình Dương tăng 8,4%; Đồng Nai tăng 7,9%; Cần Thơ tăng 7,9%; Hà Nội tăng 6,8%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,4%; Quảng Ninh tăng 5,9%; Vĩnh Phúc tăng 2,3%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 4,5%.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 5/2015 tăng 7,5% so với tháng trước  tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng, chỉ số tiêu thụ tăng 12,7% so với cùng kỳ năm 2014, cao hơn mức tăng 9% của cùng kỳ năm 2014, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tháng đầu năm nay tăng cao: Sản xuất xe có động cơ tăng 35,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 30,6%; sản xuất kim loại tăng 23,3%; dệt tăng 14,5%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất thiết bị điện tăng 10,2%; sản xuất trang phục tăng 7,4%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 5,9%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 5,8%; sản xuất đồ uống tăng 5,4%; sản xuất thuốc lá giảm 2,6%.

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/6/2015 tăng 11,8% so với cùng thời điểm năm trước, thấp hơn mức tăng 12,8% của cùng kỳ năm 2014, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 5,7%; sản xuất thiết bị điện giảm 2,1%; sản xuất thuốc lá giảm 5,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 7,3%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn nhiều so với mức tăng chung: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 140,4%; sản xuất đồ uống tăng 85%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 45,1%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 44,2%sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 41,4%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 5 tháng đầu năm là 77,8%, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu 155%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 124,4%; sản xuất chế biến thực phẩm 99,7%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/6/2015 tăng 6,6% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 1,3%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 4,4%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 10,5%.Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 8,2% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 7,9%; ngành cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 3,7%; lao động ngành sản xuất, phân phối điện ổn định ở mức cùng kỳ năm 2014.

Lao động của các doanh nghiệp tại thời điểm 01/6/2015 so với cùng thời điểm năm trước của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Thái Nguyên tăng 61,7%; Vĩnh Phúc tăng 17,2%; Hải Dương tăng 13,5%; Quảng Nam tăng 11,4%; Bình Dương tăng 10,4%; Quảng Ngãi tăng 6,7%; Đồng Nai tăng 5,8%; Đà Nẵng tăng 4,4%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 2,4%; Cần Thơ tăng 0,8%; Hà Nội tăng 0,2%; Hải Phòng giảm 0,8%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 1,7%; Quảng Ninh giảm 5,2%.



 

Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong tháng Sáu, cả nước có 9351 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 63,1 nghìn tỷ đồng, bình quân vốn đăng ký một doanh nghiệp đạt 6,7 tỷ đồng. So với tháng trước, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 19,6%; số vốn đăng ký tăng 10,9%; số vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp giảm 7,2%. So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 53,6%; số vốn đăng ký tăng 10%. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới tháng Sáu là 133 nghìn người, tăng 46,9% so với tháng trước.

Trong tháng, cả nước có 1103 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 1,4% so với tháng trước; có 4935 doanh nghiệp gặp khó khăn phải tạm ngừng hoạt động, tăng 19,9%, bao gồm 1280 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động có thời hạn và 3655 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký; có 824 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động, tăng 29,8%